Archive for the ‘Biên khảo’ Category
Kỳ bí miếu “Đá Nổi Rong Chìm”
Tuesday, October 6th, 2009Cát Tường
Mỗi năm miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” (tọa lạc tại ấp Phú Tây, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) cúng hai lần, thu hút hàng ngàn người đến dự đó là ngày 10 Tháng Ba âm lịch, lễ Vua Hùng, cúng trăm quan đại thần và các ngày 21-22 Tháng Sáu âm lịch cúng Bà Chúa Nguyên Nhung. Ðược khá nhiều người biết là vậy, nhưng miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” còn nhiều điều kỳ bí.
* Bí ẩn
“Ðá Nổi Rong Chìm” là tên gọi dân gian nhưng tên chữ của nó là “Thạch Phù Miếu” trên tấm bảng treo sát nóc miếu. “Ðá Nổi Rong Chìm” là câu nói có tính đối lập của vật chất, hễ “đá nổi” thì “rong chìm”. Nhưng đá làm sao nổi? Ðó là điều kỳ bí của một ngôi miếu nằm ở nơi hoang vắng đến nao lòng này.
Con đường ngay trước cửa miếu nhỏ khoảng 4 tấc, lởm chởm đất đá rất khó chạy xe gắn máy vào, dù không phải ngày mưa. Khách lạ lầm tưởng đây là đường chính, nhưng đó chỉ là bờ mẫu ngăn hai miếng ruộng sâu “hun hút” bên dưới. Ðể vào miếu người ta chạy xe thẳng tới xóm nhà bên hông phải của miếu.
Miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” do ông Văng Công Năng, 65 tuổi, quản lý khoảng 30 năm qua và ông Lương Văn Lực, 40 tuổi, làm từ. Chúng tôi đến miếu chỉ gặp ông Văng Hồng, 43 tuổi, cháu kêu ông Năng bằng chú.
Ông Hồng nói, “Chú tôi đi Ô Môn (Cần Thơ) chiều mới về, muốn biết gì về ngôi miếu này cứ hỏi tôi. Dù nhà ở thành phố Long Xuyên (An Giang) nhưng tôi hầu như có mặt thường trực ở đây.”
Rồi ông đưa chúng tôi đi một vòng bên trong miếu. Ông nói, “Miếu trước kia tọa lạc trên mảnh đất rộng tới 5 công, nay còn chừng 4 công.” Miếu xây tường, mái tôn đỏ, khang trang. Ở giữa gian giữa có chiếc ngai to lớn bóng lộn, chạm khắc khá đẹp, thờ Hội Ðồng Trăm Quan (còn gọi các quan Ðàng Cựu). Ông Hồng không biết chiếc ngai gỗ này có từ khi nào. Ở sát tường, gian giữa thờ Cửu Huyền Thất Tổ trăm họ, bên trái thờ cụ Nguyễn Trung Trực, bên phải thờ cốt Thánh Mẫu Nương Nương. Ðây không phải chùa Phật Bắc Tông, lại không phải đình, và không hiểu sao nơi thờ tự theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương này lại gọi là miếu?
Ngày thường, lúc nào miếu cũng có khách thập phương cúng viếng, có khi ở lại. Khi chúng tôi đến, có khoảng 5-6 khách hành hương đang nằm võng nghỉ ngơi với ly nước bên quán phía phải miếu. Người ở Giồng Riềng, Gò Quau (Kiên Giang); kẻ ở Ba Chúc (Tri Tôn), Tịnh Biên (Tịnh Biên) đều của tỉnh An Giang…
Bà Lê Thị Kỉnh, 68 tuổi, ngụ phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên đang lui cui đốt nhang khấn vái trước ngai thờ Hội Ðồng Trăm Quan, cho biết, miếu có mặt khoảng 40 năm trước. Hồi nhỏ, bà ở Lấp Vò (Ðồng Tháp), năm 1969, cha bà đưa cả gia đình về đây cư ngụ. Bà nhớ lại lúc ấy ngày nào bà cũng đi hái bông súng, rau dừa, rau muống mọc hoang và bắt cá tép ở quanh đây đem về làm món ăn cho gia đình. Bấy giờ, đây chỉ là ngôi miếu nhỏ giữa một vùng đồng không mông quạnh, sau, vợ chồng ông Bảy (không biết họ tên) ở Láng Linh (Châu Phú, An Giang) về tu. Qua bao năm tháng, từ gian miếu dừng và lợp lá xé, miếu lần hồi có diện mạo khang trang như ngày nay và có tên “Ðá Nổi Rong Chìm”. Miếu thu hút bà con khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là bà con khu vực Kiên Giang, An Giang, Ðồng Tháp đến cúng viếng, do sự kỳ bí của nó.
* Cổ vật dưới lòng đất và lời giải
Sự kỳ bí đó là sự tích của những viên đá, cây cột cùng nhiều hiện vật có mặt bên trong và bên ngoài miếu. Ông Văng Hồng đưa chúng tôi ra sân miếu trên “con đường” lót gạch bông, hai bên là khoảng sân đất rộng thoáng. Cuối “con đường” là hòn non bộ với những viên đá to xếp chồng lên nhau, trên cùng là hai tượng Phật đứng có lọng che. Phía trước tượng Phật là một mảnh đá dẹp và to; hai bên là hai cây gỗ đầu nhọn đưa lên trời, thân gỗ sần sùi hang lỗ. Ông Văng Hồng nói mảnh đá dẹp và to ấy được bà con gọi “Thạch Ðao”. Còn hai cây gỗ là số ít trong rất nhiều cây gỗ khác còn giữ tại miếu.
Bên trong miếu có mấy khúc gỗ giống như vậy, ngắn hơn. Ông từ Lương Văn Lực vừa chỉ vào một khúc gỗ vừa băn khoăn, “Hổng biết nó là cái giống gì.” Ðó là khúc gỗ bóng loáng, một đầu nhọn, có đường vòng từ trên xuống dưới, với nhiều hang hốc, giống khúc trầm hương. Rồi ông Lực lần lượt đem ra từ ngăn tủ kính nhiều hiện vật, như: cái trống bằng đất nung, sơn xanh; những viên đá giống san hô; một rổ đầy những viên đá và đất nung không còn nguyên vẹn, một vài mảnh vỡ có rảnh giống miệng cối xay bột… Hàng bao nhiêu thứ dù được cất giữ trong tủ kính, dù nằm bên ngoài đều phủ bụi.
Ông Lực mới về miếu chừng năm nay nên chỉ nghe người ta kể những câu chuyện kỳ bí của miếu. Trên đường hỏi thăm miếu, chúng tôi gặp ông Nguyễn Văn Hai, 83 tuổi. Ông kể hồi 17-18 tuổi ông đã thấy đá nổi vào ban đêm. Ðá có đường kính 7×8m. Người ta đào vàng non được nhiều lắm. Riêng ông Văng Hồng là một người có học tương đối cao nên biết một số vấn đề, có thể giải mã về sự kỳ bí của miếu. Ông nói những hòn đá làm hòn non bộ, “Thạch đao”, hai cây gỗ ngoài miếu đều “nổi” lên khoảng năm 1980, vào mùa nước nổi. Chúng cùng các cổ vật khác “nổi” cả một vùng rộng khoảng 1-2 ngàn công đất. Năm 1990, khi xáng múc, chúng lại “nổi” thêm lần nữa. Cùng với chúng, người ta còn tìm thấy vàng. Chính vì vậy mà lúc bấy giờ người dân xung quanh đổ xô đến đây tìm vàng để “đổi đời” (giống như trước đó người ta đổ xô đi đãi vàng ở di chỉ Óc Eo).
Ông Văng Hồng kể những gì mình tận mắt chứng kiến, “Người ta tới khai thác vàng, đãi lấy mạt. Tôi thấy người ta đào được đồ trang sức bằng vàng và bạch kim. Có người đào được một sợi vàng xoắn giống như dây chì, người khác có được những hột vàng nhỏ như trứng cá…” Khi đó những nhà khảo cứu đã đến đây và cho biết những di vật này có niên đại 1001-1003. Ông Văng Hồng đoán, “Có lẽ đây là cổ vật thời Óc Eo.” Ðiều này có lẽ, bởi miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” tọa lạc tại ấp Phú Tây, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, rất gần với di tích Óc Eo.
Theo tài liệu, Óc Eo là tên gọi của một nền văn hóa xa xưa do nhà khảo cổ L. Malleret đặt sau khi khai quật di tích Óc Eo (Ba Thê, Thoại Sơn, An Giang) vào năm 1944 và công bố trong bộ sách “L’ Archeologie du delta du Mekong” (Khảo cổ học ở đồng bằng sông Cửu Long), xuất bản từ năm 1959-1964.
Theo L. Malleret, nền văn hóa Óc Eo có phạm vi phân bổ chủ yếu ở vùng trũng miền Tây sông Hậu gồm các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Ðồng Tháp, Cần Thơ, Bạc Liêu… và một phần đất miền Ðông Nam Cambodia. Văn hóa Óc Eo phát triển từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI sau Công Nguyên trên vùng đồng bằng sông Cửu Long, là một nền văn hóa phát triển rực rỡ nhất Ðông Nam Á vào thời cổ đại. Óc Eo là thương cảng sầm uất, kinh tế rất phát triển, là trung tâm thương nghiệp phồn thịnh, giao thương với các quốc gia: Trung Hoa, Ấn Ðộ, Ba Tư và vùng Ðịa Trung Hải. Óc Eo có một nền văn hóa tâm linh của hai tôn giáo: Bà La Môn và Ấn Ðộ. Chính vì vậy mà ta có thể đoán những hiện vật có mặt tại miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” là những cổ vật của nền văn hóa này. Những mảnh vỡ có rãnh là một phần của yoni, những viên đá hình thon là linga, những khúc gỗ là cột nhà…
Theo ông Mai Văn Nám nhà ở Lung Cột Cầu – Bưng Ðá Nổi (một di tích văn hóa Óc Eo ở xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Ðiền, Cần Thơ) thì tên Bưng Ðá Nổi là do “từ rất lâu nơi đây đã xuất hiện một đống đá cổ mỗi hòn lớn cỡ một vòng tay ôm, ‘nổi’ lên mặt đất.” “Có lẽ người Khmer xưa gom về định dùng cất chùa,” ông Nám đoán. Còn Lung Cột Cầu xuất phát từ hàng trăm cây cột lớn nhỏ được xếp thành hai hàng, hầu hết đều là gỗ căm xe, tự nhiên từ lòng đất nhô dần lên, tựa những trụ cầu. Theo ông Nguyễn Văn Tời, ở gần đó, thì có thể đó là dấu tích của người thời Óc Eo, đã từng xây nhà, dựng cột… tại mảnh đất này.
Nhưng đó chỉ là suy đoán vì các nhà khoa học, khảo cổ sẽ đến miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” lần nữa để khai quật tìm hiểu sâu hơn. Bởi, “dưới nền miếu hiện nay còn rất nhiều cổ vật” và xung quanh khu vực này lâu lâu lại thấy “nổi” lên khi thì viên đá, lúc khúc gỗ… Việc khai quật chính yếu sẽ do công ty Thiên Trúc ở Sài Gòn đảm nhiệm. Công ty này đang khai quật di tích Gò Tháp (Tân Kiều, Tháp Mười, Ðồng Tháp) tìm hiểu nền văn hóa Óc Eo xưa tại đây,” ông Văng Hồng cho biết.
Sự kỳ bí của miếu “Ðá Nổi Rong Chìm” sẽ được giải mã trong nay mai, để khẳng định “Thạch (đá) Phù (nổi) miếu” đúng là nơi “đá nổi” như tên đặt của miếu.
Giã từ xe lôi
Wednesday, January 14th, 2009Vũ Thống Nhất
Năm 2009, một biểu tượng văn hóa đậm chất nhân sinh, tồn tại cả thế kỷ và chỉ có ở vùng đất tận cùng phương Nam sẽ dần trôi vào ký ức. Chính cuộc mưu sinh của họ đã góp phần tạo nên nét độc đáo cho vùng đất này. Xin chào xe lôi.
1. Không lớn như xe lam, không “hộp” như ôtô, xe lôi nhỏ và ngồi hơi “đụng chạm” một chút. Khách thì nhiều loại lắm, từ các má các chị tần tảo chợ xa chợ gần sớm hôm đến anh công chức đạo mạo áo bỏ trong quần, những cô bé học sinh “phá như quỷ” thướt tha áo dài trắng tinh khôi, những vị khách du lịch thong dong trên đường làng rợp bóng cây…Cái khoảng võng xuống của thùng xe, dưới chân khách có khi là những bao tải rau, hoa quả, mấy con gà con vịt hoặc hành lý. Trong cái mơn man của gió sông Tiền sông Hậu, người đồng hành sẽ được nghe đủ chuyện thú vị miệt sông nước và cảm nhận được sự phóng khóang chân tình của người miền Tây. Dưới những cơn mưa, rúc rích tiếng cười của đôi bạn trẻ lọt ra ngòai tấm ni lông trùm vội… Bạn đang hòa vào nhịp sống thường nhật của người dân châu thổ rồi đó.
Nếu cây bẹo mảnh khảnh ở chợ nổi còn giữ được tính nguyên sơ từ thời mở đất thì chiếc xe lôi lại ẩn chứa, là chứng nhân lịch sử của bao biến động đồng bằng. Khoảng năm 1917 Pháp đưa xuống Gò Công 10 chiếc xe đạp – dân gọi là xe máy, cho nhân viên bưu tá, (Sơn Nam – Văn minh miệt vườn). Chỉ mấy năm sau “sự kiện chấn động” đó xe kéo (lôi) đạp ra đời. Người ta cắt bỏ gọng gỗ xe kéo tay, thay vào đó một tấm ván gỗ gọt đẽo thành hình mũi tàu nhô lên ở giữa với một vòng sắt tròn ở chóp nhọn dùng để móc vào thanh sắt bắt đinh ốc hoặc hàn chặt vào sườn xe đạp. Từ cái mốc quan trọng này, ngược thời gian thăm thẳm về trước của tiếng lóc cóc mõ gỗ xe bò, âm thanh lọc cọc cùng ánh đèn khí đá leo lét treo bên thành xe ngựa, xe kiếng trên những tuyến đường thuộc địa rải đá…Và bắt đầu từ thập niên 40 của thế kỷ trước khi dấu ấn của văn minh công nghiệp dồn dập hằn nặng trên đất đồng bằng (Sachs, Hon Da, Suduki, Yamaha gần đây là xe Trung Quốc…) thì “tuổi đời” của xe kéo – xe lôi cũng đằng đẵng cùng người châu thổ Cửu Long cả thế kỷ nay rồi.
2. Ai đã nghĩ ra cái “mũi tàu” để nối xe với thùng để trở thành xe lôi? Vì sao phương tiện này chỉ có ở dải đất cuối trời Nam? Đi tìm ngọn nguồn thật khó nhưng có một điều chắc chắn cái chất “ứng vạn biến” của người đồng bằng đã khởi nguồn từ thủa xa xưa mở đất. Và chính sự sáng tạo, nhạy bén, linh họat, mau dịch chuyển tâm thức để thích ứng, chắt lọc từ cái mới phục vụ cho mình cho cộng đồng luôn làm vùng đất trẻ sống động, tràn đầy sinh lực. Cây bẹo mảnh khảnh dưới sông và “mũi tàu” xe lôi trên bộ bắt nguồn sâu sa từ tâm thức đó.
Cái mới phải tương thích, hiệu quả mới được thừa nhận. Xe lôi ở Cần Thơ có dáng mô phỏng của chiếc xích lô với mui che xếp lại được, còn gọi là “xe vua”. Xe lôi Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang… hao hao xe lôi Nam Vang, thùng dài, hai khoang mui kín, chở được nhiều người hơn. Còn ở Mỹ Tho (Tiền Giang) vẫn sử dụng xe xích lô như ở Sài Gòn. Xe thổ mộ ít có ở những tỉnh thuộc Tây sông Hậu… Đất châu thổ luôn ẩn chứa bao điều kỳ thú. Người đồng bằng sẽ có những bước sải lớn hơn, kỳ diệu hơn trước thời hội nhập, mở cửa hôm nay.
Khắp các ngả đường, con hẻm lớn nhỏ, từ thành thị đến tận nông thôn, cheo leo trên đỉnh núi Cấm phủ trắng mây mù hay những dải cát trắng ven biển Kiên Giang, Trà Vinh, Hà Tiên… đều có hình bóng chiếc xe lôi. Cứ đứng một chỗ, vẫy tay là có xe rong ruổi. Xe lôi trở thành phương tiện di chuyển quá quen thuộc và một thời còn là nét văn minh đường bộ như xuồng ghe là văn minh sông nước vậy. Có năm chỉ riêng HTX xe lôi ở Cần Thơ đã lưu chuyển hàng triệu lượt khách, hàng chục ngàn tấn hàng hoá. Sự tiện ích của nó “nặng” đến nỗi khi vùng đất này đã chen chúc đủ lọai xe hơi cao cấp bóng lộn; khi xe bus, taxi bùng nổ nhưng cả một thời gian dài chúng vẫn chưa đủ sức xóa được khả năng vận chuyển cơ động, hợp mức sống của người dân đồng bằng. Xe lôi từng là niềm cảm hứng, đi vào văn vào thơ; đã thành một phần của văn hoá, một phần của hồn người, một phần của quê hương.
3. Tết này, Ông Ba Phát, nhân vật của một đoàn làm phim Hàn Quốc và nhiều bài phóng sự về xe lôi đồng bằng cùng gia đình đón Xuân trong căn nhà tình nghĩa của Phường An Cư (TP.Cần Thơ) trao tặng. Đã gần 90 tuổi rồi nhưng ngày ngày ông vẫn kẽo kẹt ngược xuôi dù mưa hay nắng. “Chữ nghèo chẳng dễ hiểu đâu/ Xa sâu như tiếng đàn bầu trong đêm”. Dấu chân chín đứa con lớn dần theo vòng quay của bánh xe nhưng đến nay kiếp nghèo vẫn không thu ngắn được. Tuy nhiên ông khẳng định: Cuộc sống và nhân cách của anh em được coi trọng hơn rất nhiều so với thời trước. Hàng năm gia đình ông được cấp sổ nghèo, được cho vay vốn không kể Tết nhất ốm đau được chính quyền đến tận nhà thăm nom giúp đỡ. “Chữ cu li đã không còn nữa”.
Vòng xe, vòng đời. Đa số người chạy xe lôi là dân nghèo. Có người 30-40 năm; có gia đình 2-3 thế hệ “ru con” bằng chính đôi chân của mình. Họ cõng theo bao ước vọng, nguyện ước của mình và gia đình. Trong đó, nhiều gia đình đã kiên cường vượt thóat nghịch cảnh, con cái bước vào giảng đường Đại học, trưởng thành, ngẩng mặt với đời.
Rõ ràng, chính những loại xe thô sơ này, một thời gian dài, đã là cứu cánh cho biết bao gia đình, biết bao số phận. Họ đã tự cứu mình, bằng tất cả tinh lực, những giọt cuối cùng trước khi… trời cứu một cách lương thiện. Một sự tranh đấu bền bỉ, kiên cường, thật đáng khâm phục. Xe kéo, xe lôi đồng bằng vẫn dẻo dai men theo xã hội mà sinh tồn, (có thời) trở thành linh hồn của cuộc sống đô thị với những thuộc tính năng động, mạnh mẽ, sáng tạo và phát triển. Nhiều người còn đoan quyết rằng nếu không có nó chưa hẳn đã có thực tại hôm nay (?).
4. Không phải đợi đến Nghị quyết 32 của Chính phủ ban hành (tháng 6-2007), mấy năm trước đó xe lôi miền Tây đã “tan tác” bởi lệnh hạn chế từ một số địa phương. Hợp tác xã xe lôi Cần Thơ có thời quản lý cả trên ngàn phương tiện thô sơ nay đã giải thể. Khu vực đường Ba ngọn, bến Ninh Kiều là nơi tập trung xe lôi đưa đón du khách nay vắng hoe, chỉ còn hai ba chiếc xe lôi đạp chịu mối chở hàng bông. Điều quan trọng việc hỗ trợ chuyển đổi nghề ở hầu hết các địa phương trong vùng đang thực sự lúng túng đồng thời chọn lựa phương tiện nào thay thế vẫn là câu hỏi lớn dù chính quyền đã có nhiều nỗ lực. Một thống kê sơ bộ cho biết, sau nửa thế kỷ tồn tại (xe lôi), khoảng 10.000 xe lôi máy, xe ba gác máy sẽ “biến mất” ở các đô thị miền Tây vào ngày 31.12.2007! Như vậy khoảng 40 ngàn người lệ thuộc (bình quân 4 người/hộ), chủ yếu là dân nghèo đang đứng trước thách thức rất lớn trong cuộc mưu sinh.
Đó còn là một thách thức cho cả xã hội khi xuất hiện nguy cơ “Đói nghèo chốn phồn hoa”, làm đậm nét thêm hố ngăn cách giàu nghèo ngay giữa thành thị. Quá trình đô thị hoá nhanh chóng vừa qua cũng tạo thêm áp lực khi một lượng lớn cư dân nông thôn mất đất sản xuất, thiểu việc làm, không có thu nhập và trở thành dân nghèo đô thị. “Thế giới đô thị hoá nhanh không thể tự coi là phát triển hài hoà nếu những người sống trong các khu vực ổ chuột không có nhiều cơ hội tìm việc làm và cải thiện điều kiện sống” (Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-Moon).
“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”. “Xích lô du lịch” bỗng dưng tìm được lộ trình tồn tại. Mấy năm trước, hơn 300 chiếc xích lô mang kiểu dáng khác nhau của ba miền Nam – Trung- Bắc diễu hành ngay đất cố đô. Lần đầu tiên người Huế nhìn thấy những chiếc “xích lô phương Nam” với thùng xe phía sau và người đạp xe ngồi trước. Xe lôi, một trong những nét đặc trưng văn hóa miền Tây sẽ tuột trôi hết vào ký ức? Văn minh công nghiệp đã mang nó đến và chính xã hội văn minh đã định đoạt số phận xe kéo – xe lôi đồng bằng. Đó là quy luật. Nhưng những người nghèo, “vô sản”, chỉ có sức lao động để bán cũng có quyền mơ đến cuộc chia tay “ngọt ngào”: không sốc, không day dứt, ám ảnh và bớt lo toan hơn. Xe vua đâu còn xuống phố. “Bóng người xà ích/ Thành hồn muôn xưa”.
Xin ngả nón kính chào: giã biệt xe lôi./.
==============================
Ảnh: Trương Công Khả, Dương Thế Lộc, Terra Galeries
==============================
Mời xem thêm:
Thăm chợ nổi xứ người
Saturday, October 4th, 2008Ngồi ghe dọc ngang Damnoen Saduak, một khu chợ nổi khá lâu đời của Thái Lan, tôi “ngộ” ra nhiều điều…
Chợ nổi xứ người
Chợ thuộc tỉnh Ratchaburi, vùng chuyên làm nông nghiệp, nằm cách thủ đô Bangkok chừng 105km về phía Tây Nam. Khách có thể đến Damnoel Saduak bằng xe buýt hai tầng loại lớn (đi khoảng 1 tiếng rưỡi) hoặc bằng xe gắn máy. Hằng ngày, từ sáng đến chiều, cứ đều đặn 20 phút là có xe buýt chạy từ bến xe phía Nam Bangkok đi chợ nổi, giá vé là 80 baht (khoảng 40.000 đồng Việt Nam) một hành khách. Tại tất cả các khách sạn ở thủ đô người ta cũng có thể đặt tour đi chợ nổi.



Như mọi dân tộc sống trên lưu vực các con sông lớn, người Thái cũng có những sinh hoạt gắn liền với dòng Mekong. Tuy nhiên nét đặc thù của đất nước chùa Vàng là có một hệ thống kênh đào khá hoành tráng phục vụ cho các hoạt động nông nghiệp cũng như giao thương và đi lại. Ta có thể tìm thấy kênh đào ở mọi nơi, từ Bangkok đến Ratchaburi hay Rayong…




Muốn quan sát cuộc sống miệt sông nước của người dân vùng này, du khách phải thuê thuyền với giá 300 baht/giờ (gần 150.000 đồng Việt Nam). Cứ 5 – 6 người sẽ được chủ bến xếp lên một chiếc ghe chèo (hoặc ghe máy) thả mình lang thang trên các con kênh đào bề ngang chưa đầy chục mét, chằng chịt như mê trận giữa những cánh đồng rộng lớn trồng cam, trồng dừa, trồng xoài, trồng chuối và vô vàn các loại hoa quả khác.



Damnoen Saduak rất nhộn nhịp. Từ trên cao nhìn xuống, nhiều khi người ta chẳng thể thấy được… nước dòng kênh vì thuyền bè chen chúc nhau dày đặc. Những chiếc ghe thon dài, những chiếc nón rộng vành đặc trưng của người Thái len lỏi khắp chợ bán nông sản, đặc sản trong vùng nhưng vẫn “chìm nghỉm” giữa rừng du khách. Hai bên bờ là những sạp hàng lưu niệm, mỹ nghệ san sát liền kề, đầy tính thương mại của một khu chợ nổi du lịch hiện đại. Ngay cả các ghe thuyền bán nông sản cũng thay đổi phương thức bán buôn cho phù hợp hơn: trái cây được bóc vỏ, bọc giấy kính tươm tất. Thật khó kiềm lòng trước những thuyền bán bánh dừa, đường dừa, bánh nếp và đặc biệt là thuyền trái cây bày rất bắt mắt, sạch sẽ và thơm ngon. Người bán chủ yếu ở trên bờ, du khách muốn mua thì cặp thuyền vào trả giá. Một khu vực rộng hàng công đất hai bên bờ được quy hoạch thành những khu nhà hoặc phân lô bán hàng đặc sản, thủ công mỹ nghệ, quần áo, ăn uống… Hàng hóa rất đa dạng, phong phú nhưng hầu hết không phải của Damnoen Saduak. Rõ ràng, người Thái muốn làm bật bản sắc văn hóa Thái thông qua điểm du lịch này (từ con dao, chiếc mặt nạ, quần áo may sẵn, sản phẩm chế biến… đến “Quốc vật” là con voi và cả dịch vụ massage cổ truyền của người Thái).









Nhiều người có kinh nghiệm rỉ tai nếu thích hãy “ráng nhịn”, quay về Bangkok mua, rẻ hơn nhiều. Một tượng gỗ bocxing Thái cao khoảng 20cm “hét” 750 baht, trả giá hai lần xuống 200 baht đã tưởng hay ai dè vẫn… “dính chấu”! Nhưng nhiều khi khách trả giá đi trả giá lại rồi bỏ đi vẫn nhận được cái chắp tay khiêm nhường và nụ cười duyên dáng của cô chủ. Tổn thất mà du khách phải trả do bị hớ khá cao nhưng khi biết, “nạn nhân” cũng chỉ cười hềnh hệch do cách tiếp thị quá khéo và thái độ cực kỳ thân thiện của người bán.


Nhớ hoài cây bẹo miền Tây
Ngồi ghe dọc ngang Damnoen Saduak mới “ngộ” ra nhiều điều. Chợ nổi Thái Lan thiếu hẳn sự hoành tráng, quy mô, cảnh giao hòa tuyệt vời của con người giữa trời nước mênh mông, với thiên nhiên hữu tình như chợ nổi miền Tây Nam bộ, mà một nhà nghiên cứu văn hóa người Australia từng ngỡ ngàng, thảng thốt: “Đó là thương trường lộ thiên kỳ diệu, là sự bùng nổ của sắc màu, âm thanh, hương vị thiên nhiên, con người mang đậm sắc thái Việt”. Tầm mắt của du khách tham quan Damnoen Saduak bị đóng khung, “cận cảnh”; hiếm khi được căng tràn lồng ngực “nuốt trọn” không khí trong lành, lồng lộng gió hương cây trái miệt vườn. Như chợ nổi Cái Bè, Cái Răng, Phong Điền, Trà Ôn, Ngã Năm Thạnh Trị, Gành Hào… sôi động, phơi hết sắc màu cây trái châu thổ, vẫn là những trung tâm giao thương hàng hóa lớn, tác động mạnh tới thị trường nông sản Nam bộ, mỗi ngày hàng trăm ghe thuyền vẫn tụ về bập bềnh buổi ban mai, tan dần lúc mặt trời bắt đầu rực rỡ và lấp lánh như hội hoa đăng khi màn đêm lơi lả trên sóng nước.




Cảm nhận rất rõ của du khách là người Thái dựng nên khu chợ nổi này chủ yếu để phục vụ… khách du lịch. Sự giao thương ở đây nhắm đến khách vãng lai là chính và sự can thiệp, “nhân tạo” của ngành du lịch Thái quá đậm nét. Chợt nhớ đến cây bẹo (cây sào treo hàng bán, hết hàng thì rút xuống), lâu nay được xem là “hồn” của chợ nổi, một sáng tạo tiếp thị độc đáo của giới thương hồ đồng bằng Nam bộ. Có lẽ không nơi nào, không có chợ nào và ngay cả các hãng chuyên làm dịch vụ quảng cáo thời @ lại nghĩ ra một kiểu quảng cáo sản phẩm độc đáo như ở chợ nổi miền châu thổ sông Mekong. Một kiểu quảng cáo dân dã được lưu giữ hàng mấy trăm năm nay, trung thực, tự nhiên, nhưng rất hiệu quả, đánh thẳng vào thị giác của người qua kẻ lại. Chợ nổi ĐBSCL với âm thanh và sắc màu riêng biệt, từ những con rạch hẻo lánh tụ về minh chứng cho nền nông nghiệp thị trường hàng hóa sớm bắt nhịp cùng nhu cầu giao thương vượt quy mô làng xã của cư dân đồng bằng; là một sáng tạo văn hóa kinh tế thương hồ của cha ông tồn tại hơn một thế kỷ qua vẫn còn lưu lại khá đậm nét sinh hoạt truyền thống đặc thù, điển hình của dân cư châu thổ Cửu Long; còn nặng tính hồn nhiên, tự phát. Chính ưu điểm nổi trội này đã khiến cho du khách luôn thích thú, kích thích sự tò mò khám phá về một nền văn minh sông nước kỳ bí nơi cuối dòng Mekong huyền thoại!
Chợ nổi Thái Lan không có sự giao thương rộng lớn (bán sỉ) giữa các thương hồ trong vùng; ít thấy cảnh giao nhận hàng – người tung kẻ đỡ như những nghệ sĩ biểu diễn trên sông… mà chỉ là cuộc mua bán nhỏ, lẻ, trực tiếp với người “bên ngoài”, khách du lịch, nên chợ cũng không nhóm từ khuya mà chỉ bắt đầu khi ánh mai đã tỏ.
Sóng buồn sông nước Cửu Long
Thái Lan còn các chợ nổi Taling Chan, Wat Sai… nhưng chỉ riêng Damnoen Saduak “Mỗi ngày đón cả ngàn lượt du khách từ Bangkok đổ về. Có người xuống từ chiều hôm trước, qua đêm tại các khách sạn để kịp sớm có mặt ở chợ”- hướng dẫn viên du lịch rất vui tính người Thái, tên Việt Nam là Ổ, nói đầy tự hào. Ổ còn cho biết, trước đây tại Bangkok, trên dòng Chao Phraya (Dòng sông của các vị vua) chảy ngay sau Hoàng cung cũng từng có chợ nổi, nhưng sau đó Chính phủ không cho phép hoạt động, buộc phải di dời. Chợ Damnoen Saduak nổi tiếng này chỉ xuất hiện vài chục năm nay, khi người Thái tận dụng một làng quê bao đời sống trên nước, có địa hình kênh rạch dẫn vào khu dân sinh, có sản phẩm miệt vườn cây trái nhiệt đới thành “đặc sản” thu hút du khách. Sự sầm uất, tấp nập ở đây rõ ràng đã giúp người dân trong vùng hưởng lợi khá nhiều.





Vì sao Damnoen Saduak chỉ là “khu phố kênh rạch”, là chợ “nửa nổi”, “phân lô thuê sạp” trong không gian chật hẹp lại hút khách đến vậy? Người Thái đã làm gì để “biến không thành có”, đưa những vùng đất tương tự như miền Tây của Việt Nam thành những khu du lịch nổi tiếng thế giới? Một hướng dẫn viên kể lại rằng để thu hút du lịch, Chính phủ Thái có chính sách hỗ trợ gần 50% trên giá tour cho mỗi du khách (vào nhiều mua nhiều và họ sẽ lấy lại qua thuế doanh thu, doanh nghiệp) nhưng đổi lại các nhà làm tour bắt buộc phải thiết kế đưa khách đến một số điểm mang đậm bản sắc Thái. Hạ tầng giao thông của Thái Lan khá phát triển, xe chuyên dụng cùng các trạm nghỉ thuận tiện, sạch sẽ, lịch sự… Chính sách đầu tư, trình độ quản lý – khai thác tiềm năng, phương thức tiếp thị, thái độ thân thiện… là chìa khóa để người Thái thu hút gần 15 triệu du khách nước ngoài mỗi năm (trong khi Việt Nam hướng đến đón gần 4 triệu du khách/năm).







Giá trị lịch sử – văn hóa của Việt Nam chứ không phải yếu tố nào khác (và cũng chỉ duy nhất yếu tố này) sẽ mang lại nét đặc biệt, sự độc đáo, tạo nên sự khác biệt, sự nổi bật với các quốc gia du lịch khác mà thôi. Chỉ có những sản phẩm du lịch mang đậm bản chất văn hóa Việt mới tạo cho du khách có được sự trải nghiệm độc đáo, đặc trưng Việt Nam mà thôi nhưng tại sao ta không làm được như họ? Với hơn 54.000km chiều dài của sông rạch, châu thổ Cửu Long có một nền văn minh sông nước đặc trưng không nơi nào ở Việt Nam có được, đặc biệt là những chợ nổi trên sông đã có tuổi hàng mấy trăm năm từ thời khẩn hoang lập đất.
Tại sao ta không phát huy được những gì thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng và những giá trị văn hóa truyền thống từ hàng trăm năm trước? Câu hỏi càng ray rứt hơn khi tôi tham quan cái gọi là “chợ nổi” xứ người.
Trăm năm xe kéo đồng bằng
Sunday, August 31st, 2008
Vũ Thống Nhất
Trên đất đồng bằng, cả trăm năm rồi, có một lớp người luôn trằn trọc mưu sinh theo vòng xoay của bánh xe (ngựa kéo – người kéo – máy kéo). Hình bóng xe lôi châu thổ đã đi vào tâm thức, thở cùng nhịp sống thường nhật ở đây nhưng giờ đây đang dần trôi vào ký ức…
MƯỜI NGÓN CHÂN VƯƠNG, MƯỜI PHƯƠNG GIÓ BỤI
“Gánh cực mà đổ lên non/ Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo”. Tóc bạc trắng, thân hình gầy gò, đôi chân khẳng khiu, gân cẳng chân trồi lên, trắng bệch như muốn đứt khi cố rướn mình đạp con ngựa sắt; đó là ông Ba Phát, 73 tuổi, người cách đây hơn một năm đoàn làm phim Hàn Quốc mò đến tận nhà để quay phim, phỏng vấn. Mỗi sáng chú Ba được vợ bồi dưỡng thêm ly cà phê đen 1.000 đồng, một dĩa cơm tấm 2.000 đồng; mỗi tối một ly rượu nhàu chống nhức mỏi. Thực đơn này đã kéo dài hàng chục năm nay. Suốt 56 năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, ông lặng lẽ ”ru con” theo cách của mình: kẽo kẹt hàng trăm hàng nghìn cây số để nâng chín đứa con dần lớn khôn. Cái nghèo ám ảnh dai dẳng, đau lòng đến mức có lần trúng số chỉ mấy triệu thôi mà vợ chồng buông mùng đếm hoài đếm hoài vẫn… thấy dư. “Đêm về nằm xuôi cẳng nhưng thức dậy là lo. Xe có lăn bánh thì mới có ăn dù chỉ có cá lạt, rau dạt…Đắp đổi qua ngày nuôi bả ấy thôi mà chú em”. Vợ ông cũng đã gần 70 tuổi, cứ thút tha, thút thít, vuốt hoài những ngón chân co rút gầy guộc của chồng. “Còn cha gót đỏ chân son/ Đến khi cha mất gót chân đen sì”. Đứa con gái út đang làm mướn cho một hàng cơm cứ ngẩn ngơ khi được hỏi.
Gia cảnh mỗi người mỗi khác nên lối vào đời cũng tắt ngang khó lường. Nghề này quần quật sớm hôm, có chi mà anh bám suốt 14 năm ròng? Bảy N. cười hềnh hệch: “Những người như tui không học vấn, không kiến thức thì sao chen chân vô công sở. Nhà nghèo cũng đâu dám nghĩ đến chuyện bán buôn, vậy chỉ có thể đạp xe kiếm gạo hàng ngày mà thôi”. Đội ngũ chạy xe thủa đó đông lắm (cụm từ ”xe ôm” xuất hiện những năm đầu sau giải phóng), gồm đủ thành phần, suốt từ Tiền Giang trở xuống, trừ ít vùng – không có xe lôi – như thị trấn Sông Đốc – Cà Mau. Cuối năm 2003, chỉ 200m tại Châu Đốc – An Giang, một nhóm phóng viên còn”chộp” được đủ loại phương tiện thô sơ kiếm sống như xe lôi đạp, xe lôi máy Honda sườn “Hợp chủng quốc”, xe… bò kéo, xe lôi cứu thương với 4 cây sắt cột vào khung xe có mắc võng tòn ten rồi cả xe đẩy chở thực phẩm, bách hóa dài gần 2m… “Xe vua” Cần Thơ thùng cao hơn, có tay vịn với mui che xếp được trông khá sang trọng nhưng Trà Vinh, Long Xuyên, Sóc Trăng… lại hao hao xe lôi Nam Vang, thùng dài, bằng phẳng có thể chở hàng và người nhiều hơn…
“Nửa đời vó ngựa ngênh ngang/ Đến khi đầu bạc vẫn không cửa nhà”, Bảy N chua chát gõ tay lên vè xe nghêu ngao. Họ vật vã sống, vật vã mưu sinh, chỉ mong sao ngày mai đôi chân đen sạm, gầy guộc cõng theo cơm áo, gạo tiền, cõng theo cả nguyện ước, hy vọng của cả gia đình còn vững trước giông bão đời thường. “Mặt trời chiếu sáng cho mọi người/ Nhưng vẫn có người ở trong bóng tối”. Vâng. Có một lớp người như vậy, cả thế kỷ nay rồi. Không ai phất lên từ nghề này, tuy nhiên, “cái chữ cu li, phu xe đầy khinh bạc mất lâu lắm rồi”, ông Ba Phát tâm sự. Hàng năm gia đình ông được cấp sổ nghèo, được cho vay vốn từ quỹ xóa đói giảm nghèo địa phương không kể Tết nhất, đau ốm được chính quyền đến tận nhà thăm nom động viên. “Mỗi năm chính quyền hỗ trợ hàng trăm triệu đồng thuế doanh nghiệp và giá trị gia tăng cho anh em hành nghề xe thô sơ; tháng 2.2004 chúng tôi vừa duyệt thêm gần 200 triệu đồng nữa”, ông Bùi Hữu Nhơn – Chủ tịch UBND quận Ninh Kiều cho biết như vậy. Nghèo tiền chứ không nghèo tình, trách nhiệm công dân. Ngày trước, anh em tham gia biểu tình đòi dân sinh dân chủ, chống bắt lính; tiếp tế, nuôi chứa, liên lạc cho cách mạng. Ngày nay đóng góp thuế (có năm cả tỷ đồng), nuôi mẹ liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, góp phần xây nhà tình nghĩa tình thương, hỗ trợ học sinh nghèo, tham gia an ninh xung kích, cứu giúp người bị nạn giữa đường…
Và đã đến lúc xe lôi lùi vào ký ức. Quyết định cấm xe thô sơ trên hai tuyến đường xương sống của thành phố Cần Thơ, Quốc lộ 1A và 91, kể từ ngày 1.6.2004 (chỉ được phép chạy từ 19 giờ đến 6 giờ hôm sau và dự kiến cấm hoàn toàn vào đầu năm 2005) đã ảnh hưởng đến 50% số xe và số đội, chủ nhiệm HTX xe thô sơ quận Ninh Kiều, ông Võ Văn Mạnh, cho biết như vậy. “Các nhà quản lý nói không cần xe thô sơ nữa nhưng đó là nguồn sống của chúng tôi. Nếu không có nó, tôi thất nghiệp, rồi chuyện gì xảy ra? Đó là một phần của đời tôi, của bố tôi, là sinh kế của gia đình chúng tôi hàng chục năm trời…”, anh H, theo nghề xe lôi đạp đã hai đời giang tay than thở. Trước khi cấm, thu nhập bình quân mỗi tháng của cánh xe lôi cũng ngoài 1 triệu đồng, người chạy giỏi, có mối phải 2 triệu (tương đương hơn 100 USD) thì nay, ngay khi xăng dầu tăng giá, mỗi ngày may ra chỉ “lượm” được 10-15 ngàn đồng. Thời oanh liệt đã khép, vai trò lịch sử đã xong?
Cần Thơ có số xe thô sơ hành nghề cao nhất, khoảng trên dưới 3.000 xe (kể cả xe”thùng trắng”, chạy lậu); nếu mỗi tỉnh thành chỉ cần có 2.000 xe thì 13 tỉnh thành đồng bằng đã có hơn 90 ngàn người, đa phần là người nghèo Việt – Khơme (bình quân một người chạy xe phải cõng thêm bốn miệng ăn, ông Mạnh khẳng định) chịu tác động khi có chủ trương này trên toàn vùng?
Cả thế kỷ nay, cái nghề đó vẫn men theo xã hội mà sinh tồn, cứu cánh cho biết bao gia đình, biết bao số phận (năm 1996, chỉ tính riêng số người ăn theo 1.500 xe lôi máy diện quản lý đã lên đến…10.000 người; có gia đình nuôi ba bốn con đỗ đại học). Họ đã tự cứu mình trước khi… trời cứu một cách lương thiện, bằng chính sức lực (lao lực) của mình. Rõ ràng, có thời, chính chúng đã trở thành linh hồn của cuộc sống đô thị với những thuộc tính năng động, mạnh mẽ, sáng tạo và phát triển. Nhiều người còn đoan quyết rằng nếu không có nó chưa hẳn đã có thực tại hôm nay(?).
HOÀI NIỆM MỘT THẾ KỶ
Minh văn di tích Đá Nổi – An Giang cho thấy cái thời” ngựa kéo người” trên đất đồng bằng cũng xa lắm rồi. Ông Hai Hiển, chủ nhân ngôi nhà cổ Bình Thủy, gần 80 tuổi, nhớ lại lúc nhỏ đã nghe tiếng ”Leng keng mờ sáng/ Lóc cóc chiều về” cùng ánh đèn khí đá leo lét gắn đầu xe, tiếng chuông cóc… kèn của anh xà ích chạy trên đường thuộc địa trải đá tuyến Bình Thủy – Cần Thơ – Cái Răng… ”Bến ngựa đái” – bến xe kiếng (ngã ba Phan Đình Phùng – Tân Trào nay) ngay cổng chợ Hàng Dương thời đó luôn có 6-7 xe chực chờ. Nhiều gia đình (Ba Của, Hai Ninh, Ba Cư…) thành danh nhờ nghề này.
Cuối thế kỷ 19, tại đồng bằng, song hành với xe kiếng còn có kiếp… ”người ngựa”, xe kéo tay(Sài Gòn sử dụng đầu tiên, vào năm 1888. Đến năm 1990, Pháp nhập rộng rãi gần 400 chiếc. Những năm 1920 Sài Gòn đã có khoảng 1000 chiếc và đến 1929 mới có xe thổ mộ). Đầu tiên, ở các tỉnh lỵ, dành cho lớp người quyền thế, gia đình hằng sản, dần dà loang về vùng nông thôn và trở thành phương tiện vận chuyền công cộng. Xe kéo thủa đầu có hai bánh bằng gỗ, thùng ngồi, người phu xe cầm hai càng vừa đi vừa chạy sau được cải tiến như bánh xe được bọc vỏ cao su, đặt lò xo giữa bánh xe và ghế ngồi, dáng dấp được trang trí cho thêm phần sang trọng…
Xe đạp – bấy giờ gọi là xe máy, xuất hiện lần đầu tiên tại đồng bằng Nam bộ khoảng năm 1917, khi Pháp đưa xuống Gò Công 10 chiếc cho nhân viên bưu tá. Và chỉ ít năm sau, xe kéo (lôi) đạp ra đời: người ta cắt bỏ gọng gỗ xe kéo tay, thay vào đó một tấm ván gỗ gọt đẽo thành hình mũi tàu nhô lên ở giữa với một vòng sắt tròn ở chóp nhọn dùng để móc vào thanh sắt bắt đinh ốc hoặc hàn chặt vào sườn xe (người Pháp cải tiến xe kéo tay lạc hậu thành xích lô vào năm 1934 và đưa sang Đông Dương, đầu tiên tại Phnôm Pênh, sau đến Sài Gòn và cuối cùng là Bạc Liêu, dân miệt vườn gọi là xích lô Tây, sau đó không thích hợp ở đồng bằng Nam bộ nữa). Đó thực sự là cuộc cách mạng về vận chuyển bộ lúc bấy giờ, đặc biệt chủ – khách đã như người đồng hành, không làm quặn đau bao thế hệ như cảnh “người ngựa” trước đó. Loại này có thể tải thương, di chuyển thi hài đến các vùng quê hẻo lánh, thuận tiện trong ngõ hẻm mà giá cước vừa với túi tiền nhiều người, nhất là dân lao động nghèo và người buôn bán lẻ… Là biến thể của xe kéo ngày xưa, dù được nâng lên một cấp kỹ thuật, dùng sức đạp của đôi nhưng chiếc xe lôi vẫn là biểu tượng của tầng lớp nghèo, vẫn vận động hoàn toàn bằng nhân lực nên rất vất vả. “Đến năm 1946 xe kéo tay vẫn thấy trên phà cùng xe lôi đạp nhưng ở các đô thị đã ít lắm rồi”, ông Nguyễn Văn Kiếm, 86 tuổi, tài công phà Cần Thơ cả hai trào Pháp – Mỹ nhớ lại.
Văn minh công nghiệp lại chèn, đặt thêm dấu ấn ”đột biến” của nó ngay khi cái cũ chưa lụi tàn. Từ thập niên 1940, bên cạnh xe lôi đạp, xuất hiện thêm xe lôi kéo bằng xe (máy) Mobylette của Pháp, chạy đường ngắn. Những năm 1950 – 1960 là thời của xe gắn máy động cơ Sachs (Đức) lắp vào các loại sườn Gobel, Bosch, Phénix, Puch, Rumi… Thế rồi sản phẩm của xứ mặt trời mọc tràn ngập Nam Việt Nam với các hãng Honda, Suzuki, Yamaha… trong đó xe gắn máy bốn thì nhãn hiệu Honda (1965, chế độ cũ nhập về 5.000 xe dame 50cc chưa đầy một tháng đã bán hết, nhập tiếp 2.000 chiếc S50 65cc …) chiếm vị trí độc tôn, vượt trội nhờ sức kéo mạnh và bền, được giới xe lôi máy dùng rộng rãi.
Từ 1985 đến nay là thời bùng nổ của ”Văn minh xe – gắn – máy”. Mỗi người một ngựa, suốt từ nông thôn ra đến thành thị, tràn ngập đường quốc lộ, tỉnh lộ, và cả…xã – ấp lộ. Giới xe ôm đồng loạt lên đời, bỏ 67, 78 cánh én chạy Dream, Magic, Citi, Angel… với đặc điểm vượt trội” bay đến ước mơ” nhanh, sạch, sang trọng. Rồi trận ”mua ba cho một” của xe gắn máy Trung Quốc đã giáng đòn quyết định vào xe đạp ôm, xe lôi đạp khiến giới này càng ”tuột sên” thê thảm. “Ống bô nở rộ, peđan phải tàn”.
Nỗ lực ”xóa đói giảm nghèo” suốt nhiều năm qua trong khu vực đã khiến số người hành nghề xe thô sơ giảm xuống đáng kể (năm 1996, TP.Cần Thơ có đến 10 ngàn xe đạp ôm nay quận cao nhất, Ninh Kiều chỉ còn 19 xe lôi đạp). Đồng thời “miếng bánh” lại bị cắt chia theo đà thăng tiến của xã hội: ba bốn hãng taxi với cả trăm xe chầu chực khắp hang cùng ngõ hẻm. Xe buýt thì đầu cuối “trung tâm đồng bằng“ chỉ có 4.000 đồng bạc!
XE LÔI ĐÂU CÒN XUỐNG PHỐ?
Catherine Deneveu, nữ diễn viên đóng phim ”Đông Dương” năm 1991 khi sang Hà Nội đã nhận xét “một thành phố hoang dã, xe đạp chạy trước ô tô…”. Tại Cần Thơ, thủ phủ miền Tây cũng “kỳ lạ” không kém (có gần 235 ngàn xe ô tô, mô tô; tỉ lệ 5 người/1xe,): cái máy Honda cũ mèm, gần nửa thế kỷ mà chở tới… 500 kg hàng hoặc một tiểu đội khách vẫn chạy bon bon! Xuống miệt dưới (Cà Mau…) bạn càng bàng hoàng hơn về tải trọng do chiều dài thùng xe lôi, xe ba gác loằng ngoằng đến 2m… “30% số vụ tai nạn giao thông do xe thô sơ gây ra”, một nhà quản lý tại Cần Thơ nhấn mạnh. Số liệu này có chiều hướng gia tăng theo đà phát triển kinh tế, mở mang đô thị?
Giao thông và tai nạn giao thông đang là vấn đề nóng bỏng của cả nước. “Đây là thời điểm thích hợp”, ông Lâm Văn Tám, đội trưởng cảnh sát giao thông quận Ninh Kiều phân tích: Hai tuyến đường cấm có lượng người – xe qua lại cũng như tỉ lệ tai nạn giao thông cao nhất (130/ 238 vụ năm 2002, 114/ 210 vụ năm 2003 thuộc TP.Cần Thơ cũ). Bản thân xe lôi, xe ba gác đã là loại xe lắp ráp (móc xe giữa thùng – đầu gắn bạc đạn chết, khóa con tán… kiểu nào là đúng, được phép?); ”máy kéo” hầu hết đã non thế kỷ phải xoáy, chế lại hoặc dùng xe Trung Quốc giá rẻ; thùng xe không đèn báo lại de ra ngoài; kích thước thùng kéo, tải trọng rất tùy tiện…
Mở, nối thêm tuyến, tăng cường đầu xe các loại (riêng xe buýt đã có 43 xe, kể cả tư nhân)… Tuy nhiên, ”lỗ hổng” mà xe lôi để lại: cơ động, linh hoạt, độ “phủ sóng” cao khiến các phương tiện khác, dù hiện đại vẫn chưa kịp lấp đầy. Xe buýt quá tải; xe thồ xe đẩy phát sinh; xe ôm tăng giá; hàng loạt cơ sở sản xuất, kinh doanh ngơ ngác chưa kịp định thần chuyển thế… Sự cập rập của “buổi giao mùa” khiến nhiều người nhớ đến chiếc xe Tuk Tuk – Thái Lan, giá rẻ, kiểu đẹp, có thể len vào hẻm nhỏ, xe Lavi 3-4 bánh chạy tốt trên nhiều loại đường nông thôn trước đây… Đào tạo miễn phí lái xe công trình, cầu đường, nắm nhu cầu trợ vốn tín dụng, tặng tiền cho con em xã viên HTX xe thô sơ… Chỉ mong các giải pháp đó sẽ mang tính thiết thực, kịp thời (đa phần chạy gạo từng bữa, trình độ thì thấp – dưới lớp 5 gần 60%, tuổi tác lại cao – gần 70% trên 40 tuổi). “Nên hỗ trợ cho anh em một lần 5-3 triệu từ quỹ bảo đảm xã hội. Như vậy sẽ hỗ trợ dứt điểm cho trên 1 ngàn xe thô sơ nằm trong diện quản lý, số thùng trắng ”trốn xâu lậu thuế” tự phải dẹp bỏ”. Quan điểm của ông Bùi Hữu Nhơn cũng là điều mong muốn của đa số bác tài. Và lẽ nào hình bóng trăm năm tuột trôi hết vào dĩ vãng? Nên chăng chọn lọc lại đội ngũ, ”tút” lại dáng vẻ phục vụ khách du lịch hoặc tổ chức các đội xe lôi máy cấp cứu, chữa cháy liên phường…
Xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng nâng cao thì nhiều nghề xưa cũ lại phôi phai hoặc không thể tồn tại được nữa. Đó là quy luật. Văn minh công nghiệp đã mang nó đến và chính xã hội văn minh định đoạt số phận xe kéo đồng bằng. “Đường quê đường tỉnh/ Ào ào ô tô/ Bóng người xà ích/ Thành hồn muôn xưa”. Chỉ mong ai đó xin đừng lãng quên: trăm năm xe kéo là tình!
Chùm ảnh xe lôi đạp sống lại nhờ xăng tăng giá và chính quyền cảm thông tại Ô Môn, Cần Thơ
Ảnh: http://nguyentl.free.fr/ và Dương Thế Lộc


























